logo

Truyện ngắn

Sông nước

Tôi và Khang cùng xã, bạn bè từ nhỏ. Những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ chúng tôi ở cùng đơn vị. Năm 1970, tôi chuyển lên sư bộ. Từ ấy, mỗi người một ngã; bặt tin nhau. Mãi sau giải phóng Sài - Gòn, tôi về quê mới hay Khang đã hy sinh ở mặt trận Tây Nam.


Tôi và Khang cùng xã, bạn bè từ nhỏ. Những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ chúng tôi ở cùng đơn vị. Năm 1970, tôi chuyển lên sư bộ. Từ ấy, mỗi người một ngã; bặt tin nhau. Mãi sau giải phóng Sài - Gòn, tôi về quê mới hay Khang đã hy sinh ở mặt trận Tây Nam.

Trở lại đơn vị, mấy lần tôi lặn lội từ Cà Mau lên Kiên Giang, An Giang sang Vĩnh Long tìm mộ Khang nhưng không có kết quả. Rồi công việc cơ quan, việc gia đình biến tôi thành kẻ vô tâm với anh tự lúc nào cũng không biết nữa.

Bỗng dưng Khang hiện lù lù trước mắt tôi. Cái sự nhầm lẫn sống với chết, chết với sống trong chiến tranh chẳng phải hiếm. Vậy mà thoạt tiên tôi trố mắt ngơ ngác, xương sống cứ lạnh buốt lên. Tôi cào cấu da thịt Khang để tin là anh còn sống thực.

- Ông... ông chui ở đâu ra thế này? - Tôi lắp bắp.

Vẻ mệt mỏi, Khang ngồi xệp xuống sàn tàu và cứ gật đầu liên tục. Tôi lay vai anh, giục:

- Nói đi!

Khang thôi không gật cái đầu tóc rối bù như một bó lưới nữa. Anh nói bằng một thứ giọng kỳ lạ, nó ồm ồm, nhơn nhớt như được dính kết bởi một thứ nhựa lỏng nào đấy!

- Chuyện dài như sông, kể sau. Có cái gì ăn không, chứ ruột gan tôi rỗng rễnh cả rồi.

Tôi nhờ người cấp dưỡng luộc cá và mì sợi. Khang ăn ngấu nghiến. Xong, anh thả bát, xòe bàn tay đen đúa vuốt dọc bụng và nhắm mắt, mi mắt thâm quầng. Trong ánh sáng vàng mơ của căn phòng nhỏ tôi nhìn ngắm khuôn mặt nhợt nhạt đầy nét vẻ khắc khổ của anh và bỗng một nỗi buồn vô hạn xâm chiếm lòng tôi. Và đáng lẽ tôi phải nói câu gì đó nhưng lại im lặng nắm tay Khang kéo anh ra boong tàu. Bốn phía chung quanh chúng tôi là bóng đêm mịn màng và tiếng sóng biển ì ầm không dứt. Đội tàu đánh cá xa bờ của chúng tôi thả neo ở cửa sông Duềnh này đã ba ngày nay vì có tin bão xa. Khang là người khách đầu tiên xuất hiện một cách đột ngột và cả kỳ cục nữa: Người ta bắt gặp anh lơ mơ trên con thuyền ba ván dập dềnh bên hông tàu.

- Tôi ngủ quên, sông Duềnh đẩy thuyền đi mà không hay. - Khang vừa cựa quậy như tìm chỗ ngồi thích hợp cho mình vừa nói.

Tôi vui vẻ:

- Mấy năm qua, tôi cứ nghĩ là ông đã chết.

- Riêng chi ông - Khang nói, giọng uể oải - Sau ngày ông đi, đơn vị tôi chuyển vào mặt trận Tây Nam đánh nhau tối tăm mặt mũi. Cuối năm bảy hai, đại đội tan tác, tôi bị đạn vỡ xương vai. Một ông lão dân tộc Khơ Me nhặt tôi về nuôi.

- Sao ông không tin tức gì lên tiểu đoàn để đến nỗi làng xóm đưa tang ông - Tôi ngắt lời Khang.

- Hoi hóp mấy tháng giữa mịt mùng rừng với núi tin thế quái nào được - Khang nói, ném mẫu thuốc lá xuống biển - Vết thương lành, tôi xin ông lão chủ nhà cho về thăm nhà. Ông tiễn tôi ra đường lớn xuống Sài - Gòn. Tôi tính, hòa bình rồi, lính ta ở tràn khắp nơi, nhất định sẽ gặp được ai đó để xin ít tiền, nửa cho ông già mua ngựa - con vật ông ước cả đời - nửa dành về quê. Nhưng cả hai, ngựa và về quê theo tôi vào tù.

Khang bỗng cười, tiếng cười nấc nghẹn. Con tàu chao lắc. Gió phả hơi nước biển vào mặt tôi mặn chát. Phía khơi xa ánh đèn dân chài đánh cá dăng thấp sát đường chân trời. Vì sao lại thế? - Tôi hỏi, giọng bỗng lạnh lùng, dẫu thực lòng không muốn thế.

Khang gạt tay tôi ra khỏi tay anh, nói:

- Ông tưởng rằng, vào tù là vì có tội à? Đằng sằng là thế, nhưng không phải tất cả là thế. Chí ít là tôi, thằng lính không tội trạng chi cũng vào tù.

- Thế nên mới hỏi ông? - Tôi dàn hòa.

Khang nói tiếp:

- Hôm ấy không gặp ai quen biết trong cái thành phố nhộn nhạo ấy. Cứ như lính ta mò về quê hết ráo rồi. Tôi đi lơ mơ dọc vỉa hè thì đụng thằng Chung. ở quê, sau chiến tranh khó làm ăn quá nó vào Nam tìm vận may. Nó cho tôi hay, mẹ và em gái tôi bị bom Mỹ ném trúng hầm, cha tôi chết sau đó mấy tháng vì bệnh tim. Cô gái năm thề bảy thốt với tôi đã đi lấy chồng. Ngày ấy với tôi thật khủng khiếp. Tôi và Chung tấp vào một cái quán nhấp nháy đèn xanh đỏ sặc mùi nước hoa Mỹ, uống rượu. Uống ừng ực, uống mụ mị. Tôi say, đập phá cái gì đó; lúc tỉnh dậy đã thấy nằm trong đồn công an. Đấy là lần thứ hai tôi ở tù. Hai lần? Ông bảo, kỳ không? Lần thứ nhất khi tôi với ông còn ở cùng đơn vị. Hồi ấy, tôi không dám kể với ông vì ông làm chính trị viên đại đội; ông biết, tôi mạt kiếp chưa chừng. Mà tôi có lỗi gì đâu. Sau trận đánh đồn Mỹ Hòa, tôi bị đạn thủng ngực, các ông vác tôi vào bệnh viện. Người ta ném tôi từ chỗ này sang chỗ khác. Chỗ cuối cùng là bệnh viện Quân khu 4. Ra viện, tôi theo đường về quê. Về một buổi, một ngày cho đỡ nhớ rồi đi. Vậy nhưng vừa chân ướt chân ráo vào nhà, thằng Hưng xã đội trưởng đã dẫn dân quân đến hỏi giấy tờ. Tôi chỉ có mỗi cái giấy ra viện không ghi tên đơn vị, hắn chụp lên đầu tôi tội đào ngũ, phản bội Tổ quốc và bắt tôi bỏ vào kho phân đạm của Hợp tác xã. Cha tôi bảo, tôi bôi gio trát trấu vào mặt ông. Cô Tịnh thì không thấy mặt mũi đâu. Đêm, tôi giỡ ngói trốn khỏi nhà kho, chạy lên đường 15 xin đi nhờ xe vào mặt trận.

Lần ấy, tôi quay lưng về phía làng mà chạy, còn lần ở Sài Gòn, được thả, tôi nhảy tàu về làng. Tôi đặt chân lên đất làng lúc nửa đêm. Đón tôi chỉ có tiếng chó sửa và tiếng gió lào thào trên ngọn tre và mùi cỏ mật ẩm ướt. Nhà tôi đã thành nhà hoang, thì rõ là thế; có điều nó trống trếnh quá, nó lạnh lẽo quá. Tôi thắp ba nén hương cắm lên bàn thờ. Cái lư hương bằng đất nung đầy chân hương nhuộm phẩm đỏ. Nghĩa là có ai đó vẫn thờ cúng cha mẹ tôi, thờ cúng tôi. Tôi bám lấy ý nghĩa ấy như bám vào một sự an ủi. Nỗi xúc động trong tôi lắng dịu. Tôi buộc võng vào cột hiên trước thềm ngủ, giấc ngủ chập chờn đầy mộng mị. Tôi chưa chết, tôi về nhà chẳng biết ai thông tin mà vừa tơ mơ sáng dân làng đã kéo đến nhà tôi đứng chật vòng trong, vòng ngoài. Người ta cười, người ta khóc. Có người sờ mó mặt mũi tôi cứ như để tin rằng, tôi không phải là ma hiện. Vui mà buồn, buồn mà vui. Kéo dài cho đến trưa. Chập tối, cô Tịnh đến. Ông còn nhớ Tịnh chứ?

Tôi đáp:

- Nhớ. Trước chiến tranh bao nhiêu người theo đuổi, cuối cùng thì cô ấy chọn ông... - Tôi im bặt, vì chợt nhận ra mình lỡ lời.

Cô Tịnh mặc áo gụ, quần đen, tóc thả buông sau vai giống như xưa, chỉ khác là người béo nộn, còn nét mặt buồn thiu. Cô ấy lí nhí: “Tôi đến để xin anh tha thứ”. Người tôi ngôn ngốt, rồi thấy mình bị lừa dối, rồi thấy mình bị thiệt thòi nhất thiên hạ. Tôi hỏi, giọng cay nghiệt: “Cô biết tôi chưa chết mà vẫn đang tâm đi lấy chồng ư?”. Tịnh sụt sịt một lúc, rồi nói: “Không phải thế. Xã truy điệu anh hẳn hoi”. Tôi cười nhạt, nói: “Thế thì việc gì mà cô phải xin lỗi. Thôi, cô về đi”. Tịnh nhìn tôi bằng cái nhìn rân rấn rồi hỏi có vẻ hồi hộp lắm: “Anh giận tôi không, anh Khang?”. Tôi nói giống những tiếng thở dài: “Hơi sức đâu nữa mà giận”. Tịnh ngước khuôn mặt bầu bĩnh có một nốt ruồi hồng hồng dưới mi mắt, về phía tôi. Tôi thấy được nét thật thà trên khuôn mặt ấy: “Từ nay anh tính sao? Là nói chuyện làm ăn sinh sống ấy?” - Tôi nhăn nhó cười: “Lúc nãy tôi ra vườn thấy con thuyền cha tôi cất giữ giữa bãi giong riềng”. Nghe vậy, Tịnh giật mình, chí ít đấy là cảm giác của tôi. Cô nói, giọng run run: “Làm nghề sông nước ư? Lênh đênh lắm thôi”. Tôi nói cái giận hờn bỗng bất thần ập vào mình, tôi nói thế này: “Đây đã đủ nỗi rồi, lênh đênh thêm nữa có sá gì!” Tịnh ra về. Tôi nhìn theo. Đêm ấy cứ như côn trùng cả làng nước kéo hết về vườn nhà tôi, kêu inh tai nhức óc.

Sau đó vài ngày, vá đắp mộ cho cha mẹ và em gái xong, tôi nhờ người khênh con thuyền ba ván xuống sông. Sông Duềnh không rộng, đáy sông gồ ghề, bờ sông tấp đầy rác rưởi và nhâm nhi ruồi. Thế nhưng cá thì ít. Tôi còng gập lưng trên cần te đến răng rắc cột sống cũng chỉ đủ tiền ăn và tiêu vặt hàng ngày.

Một hôm, thằng Hưng mò xuống thuyền tôi. Nó nói như tự giới thiệu, như dọa dẫm rằng, nó là chủ tịch xã; rằng, chính quyền chưa rõ thời gian mất tích của tôi. Và rằng, tôi phải sống theo khuôn phép, không được tới những chỗ hội họp, những nơi tập hợp đông người. Nếu không nghe lời, hắn sẽ cho biết sức mạnh của chính quyền xã thế nào. Nỗi tức giận, nỗi tủi cực và cả sự bất lực khi cùng lúc nổi lên, trộn vào nhau thì chỉ có nổ tung cả người. Tôi thấy máu giần giật khắp vỏ não. Mẹ nó! Một kẻ không đi chiến đấu, khi chiến tranh qua rồi, trời yên bể lặng rồi lại khệnh khạng nhân danh này nọ mà dạy dỗ người khác. Nghĩ thế nhưng tôi cắn lưỡi im lặng cho mãi tới lúc cái dáng bục bịch của hắn lên khỏi thuyền...

Khang bỗng thở hổn hển, khua khoắng cánh tay trong bóng đêm. Tôi châm thuốc hút, cảm thấy miệng đắng nghét và trong người nôn nao. Chừng đã khuya, biển nổi gió, sóng vỗ loạp roạp dưới mạn tàu. Tôi nhìn khuôn mặt Khang, trong ánh đèn vàng ệch từ nóc tàu dọi xuống bệch bạc màu sáp, muốn chia sẻ với anh bằng một lời nói thật thân thiết. Nhưng tôi chưa kịp mở miệng thì Khang đã gần như chồm lên tôi, hỏi:

- Tại sao hắn lại thù hằn tôi kia chứ?

Tôi vội nói, nói trong sự bối rối, trong sự không tin mình.

- Ngày xưa hắn giam ông để giành cô Tịnh. Còn sau này nó thù ông vì nó sợ ông.

- Ha! ha! Nó sợ tôi? - Khang cười hấc lên - Cũng có thể ông nói đúng. Và tôi cũng sợ hắn. Thú thật là nhìn cái lưng to bè của hắn lừ lừ trên bờ sông, tôi tính bài chuồn; kiếm khúc sông khác cư ngụ. Sông Duềnh thì dài, thuyền tôi thì bé cỏn con. Một hôm, thuận con nước xuôi, tôi gác chèo, tháo cởi dây buộc thuyền nơi cây bần to lớn nhất bờ sông cạnh bến tắm của làng. Cái gốc bần ấy những đêm có sương mù nó cứ hiện lên mờ mờ, lúc trắng hếu, lúc đen nhưng nhức và cứ lắc lư như một bóng ma.

Khang bỗng im bặt. Anh chống tay vào đầu gối đứng dậy đi đi lại lại quanh chỗ tôi ngồi. Rồi áp người vào mạn tàu, chắp hai tay sau lưng, anh ngoảnh mặt về phía sông Duềnh:

- Đêm trên sông nước nó không yên tĩnh nổi ông nhỉ? Dù là nó cứ đen sẫm, cứ thăm thẳm ông nhỉ? - Giọng Khang nghe bập bềnh.

- ờ... ừ... - Tôi nói.

Khang quay lại ngồi xuống bên tôi, tựa vai vào tôi nói tiếp:

- Tôi đang định rút tấm ván cầu lên thuyền thì bỗng nghe tiếng bước chân lép nhép sau cái gốc bần ấy. Tôi ngửng đầu nhìn và nhận ra cô Tịnh. “Ai đấy?” - Tôi hỏi để mà hỏi. Tịnh thều thào: “Tôi... tôi đây mà”. Tôi lạnh lùng: “Cô xuống đây làm gì?”. Hình như Tịnh bối rối, bàn chân chuầy trên ván cầu.

Rồi cô bước thật nhanh lên thuyền. Con thuyền chao lắc, nghiêng mạn về phía bờ. Tịnh ngồi xệp xuống, bám một tay vào cọc chèo; chắc sợ ngã, và ngước nhìn tôi. Vẫn cái nhìn hút hoẵm hồi trước chiến tranh cô rẽ đám cỏ lau xuống bờ sông Duềnh nhìn tôi đãi hến. Lòng dịu lại, tôi mới hỏi: “Việc gì vậy?”. Tịnh nói như người hụt hơi: “Tôi mua cá”. Trong khoang thuyền vỏn vẹn một con cá chép bằng cái lá đa và vài vốc cá cờ. Tôi nói: “Dưới khoang thuyền ấy?” và nhìn vu vơ lên ngọn bần. Cuối mùa hè, những cánh hoa bần như những cái kim khâu đỏ sẫm bay lăm răm khắp nơi. Tịnh đặt cái sảo tre xuống sạp thuyền rồi cúi khom người thò tay vào khoang thuyền. To, nhỏ tấm mén cô vớt hết. Xong nách sảo bên hông bước lên bờ sông. Cứ như cá của nhà cô ta vậy. Tịnh đi rồi, tôi lại buộc dây neo thuyền vào gốc bần. Suốt buổi tôi vơ vẩn trên thuyền, ý nghĩ trong đầu cũng vơ vẫn. Thật tôi không hiểu nổi tôi ra làm sao nữa. Gần trưa Tịnh từ chợ đi thẳng xuống chỗ tôi. Tôi biết vậy vì thấy cô đi theo lối mòn ven sông. Trong cái sảo tre bây giờ đựng đầy những thứ cần thiết cho đời sống sông nước: Gạo, mắm, muối, thuốc lào, bao diêm... “Của anh cả đấy” - Tịnh nói và thò tay vào chỗ nào đó phía trong vạt áo ngực lấy ra tờ giấy bạc cuộn tròn buộc bằng một sợi dây chuối, dúi vào tay tôi: “Còn mấy đồng đây nữa” - Tịnh nói và mủm mỉm cười, nụ cười buồn hơn là vui. Tôi chán nản: “Rõ ràng nhỉ?”. Tịnh cúi đầu, mi mắt chớp chớp, giọng hiu hắt: “Nếu không có cái  sự ngày xưa thì nay tôi đâu phải ngồi tính toán với anh”. Cứ như có kim châm chích khắp da thịt, tôi gắt: “Tại ai?”. Cô ấy cúi đầu thấp hơn, đôi vai còn run lên nữa, nom tồi tội thế nào. “Tại tôi - Tịnh nói - Nhưng mà anh không biết tôi cực khổ đến đâsu đâu. Tôi bị bố mẹ ép lấy anh Hưng”. Tôi nói: “Hèn!”. Tịnh ngửng đầu, ánh mắt đen nhức: “Mãi sau lễ truy điệu anh, tôi mới...” - “Thôi dẹp và về đi” - Tôi ngắt lời Tịnh. Cô ấy nhìn tôi, mắt rân rấn, rồi bước rất chậm lên bờ sông.

Hôm sau, rồi hôm sau nữa... vẫn thế. Vẫn mờ sáng, Tịnh xuống thuyền vớt cá, gần trưa đưa thức ăn, cái uống đến cho tôi. Cô đã giúp tôi khỏi phải chiềng mặt ra giữa cái chợ quê đầy những người quen mà lạ, lạ mà quen.

Đến một chiều nọ, tôi còn nhớ là bầu trời nửa sáng, nửa tối và gió thì hôi hổi. Tịnh xách một cái giỏ tre - thứ giỏ người làng tôi chỉ dùng để đựng lễ vật những ngày giỗ chạp, tết nhất. Xuống thuyền, cô lấy từ trong giỏ ra một khúc đuôi bò luộc vàng ươm, một quả ớt, một gói muối, một vốc lá diếp cá lẫn lá quế và một hươu rượu. Tịnh rót rượu ra cái chén thủy tinh. Những cái bong bóng tí xíu từ đáy chén ngoi ngóp lên không dứt. Cô nói: “Rượu tôi tự nấu đấy. Nấu lấy bã nuôi lợn. Chẳng bán được đồng nào. Chồng tôi uống sạch khô. Anh ở sông không biết, chứ trên làng dạo này đang sản xuất lớn, ồn ào lắm. Tôi nói: “Tôi biết làm đếch gì!” Tịnh có vẻ như người có lỗi, lí nhí: “Là tôi thuận mồm, thuận miệng nói ra thế”. Cô đưa chén rượu vào tay tôi. Tôi uống một mình. Uống mà cứ thấy đôi mắt Tịnh như hai cái vảy cá lóng lánh hướng vào tôi. Rượu ngon mà cổ họng tôi đắng ngắt. Mắt tôi cay cay, lòng thì nao nao. Tịnh hỏi tôi: “Cần chi nữa thì bảo”. Trời ơi, còn ức triệu cái cần cho cuộc đời trống hoang hoác của mình, nhưng tôi lại nói: “Đủ!” Tịnh kéo cái giỏ tre vào lòng, vẻ uể oải: “Tôi về nhé”. Tôi nhìn những cái lá dứa uốn cong bên bờ sông nói bâng quơ: “Vội thế à?”. Bâng quơ thế nhưng Tịnh lại đặt cái giỏ vào chỗ cũ. Những ngón tay Tịnh ngọ nguậy trong cái giỏ giờ chỉ còn lá chuối khô, nghe lào xào. Giọng cô ấy dường như cũng lào xào trong tai tôi: “Tôi... thương anh lắm, anh Khang ạ”. Tôi ngửa cổ uống chén thứ ba, rồi thứ tư, rồi ực chén thứ năm. Con thuyền dập dềnh, người tôi chao đảo. Gương mặt Tịnh cũng chao đảo. Và sông Duềnh dựng ngược lên. Tịnh kêu: “Ngã đấy”, và tới ôm lấy vai tôi. Vì thế mà mặt tôi áp vào ngực cô ấy. Lúc đó bất thần trời nhả hạt mưa lắc rắc, loáng cái bốn phía rào rào lên. “Ướt!” - Tịnh nói. Tôi chui vào khoang thuyền có mái che rồi vươn tay qua cửa kéo Tịnh theo. Tôi bảo Tịnh: “Đóng cửa lại”. Cô ấy thì thào: “Tôi về thôi”. Và đưa tay thả tóc. Tóc Tịnh dài trải cả xuống chiếu. Tôi vươn tay kéo tấm ván cửa lậc khậc... Lần ấy, tôi đã hùng hục giành giật cái đáng ra là của tôi. Và, ông ạ dường như trong tôi còn có cả sự trả thù thằng Hưng.

Tôi nói với giọng đùa đùa:

- Ông được lắm!

Khang không để ý đến lời tôi, nói tiếp.

- Xong việc, Tịnh ngồi dậy ngẩng đầu nhìn tôi. Tôi lập cập giúp cô mặc áo. Tôi thấy mắt cô đầy nước, mới hỏi: “Làm sao mà khóc?” Tịnh đáp: “Chẳng làm sao cả”. Rồi mềm mại như một con mèo cô luồn qua ô cửa . Bên ngoài trời đêm đã mờ mịt. Cái gốc bần đầu mũi thuyền nghiêng ngả lúc đen, lúc trắng. Tịnh nhoài người trở lại. Tôi phải dắt cô lên khỏi ván cầu. Đến bờ sông, Tịnh bấm ngón tay vào lòng tay tôi và thì thào: “Tối mai tôi xuống”.

Tịnh về rồi, tôi nhảy xuống sông lặn hì hụp. Nước mát, đêm ngọt lành không sắp xếp nổi mọi ý nghĩ rối rắm, xáo trộn và không có cái gì mạch lạc trong đầu tôi. Tôi ngủ cho đến sáng bạch mới thức dậy chắc bởi mỏi mệt chứ chẳng phải vì thanh thản. Hôm ấy tôi không buông te. Đêm đến, tôi ngồi đầu mũi thuyền ngóng lên lối vào làng. Nhưng Tịnh không xuống. Những ngày tiếp đó cũng không thấy cô ấy đâu. Tôi nới dài dây neo, đẩy thuyền ra giữa sông rồi đi lên làng. Người con trai đầu lão Khế vươn cái cổ dài như cổ cò qua hàng rào tre khô nháy nháy mắt, nói với tôi: “Hôm làng ta mổ lợn liên hoan tiễn vợ chồng anh Hưng lên làm quan trên huyện sao không thấy anh Khang đến dự, hỉ?” Tôi cười trệu trạo. Anh ta liến thoắng: “Đi rồi! Có nhà cao cửa rộng trên phố từ đầu năm ngoái. Giỏi đến thánh cũng phải trố mắt mà nhìn, hỉ?” Tôi bỏ đi loanh quanh trên con đường làng đầy lá tre rụng và hoa mưng. Sau đó, tôi trở về thuyền, hai chân như treo đá nặng trĩu. Tôi nghĩ, thế lại hay, cái sự cô ta đi khỏi làng ấy. Là nghĩ vậy nhưng trong lòng tôi thì lại thấy trống vắng, buồn buồn. Tôi nằm ngửa kẹp tay lái thuyền vào giữa hai đầu gối mặc nước chảy bè trôi. Và rồi tôi ngủ quên.

Khang ngoảnh mặt về phía tôi, bất ngờ chộp hai tay lên vai tôi, giọng lộ vẻ mừng rỡ:

- Thuyền tôi dạt vào tàu ông, khỉ ạ!

Tôi nói:

- Trời xui đất khiến, dẫn lối đưa đường cho ông và tôi gặp nhau đấy - Chợt nhận ra bàn tay Khang nặng nề rơi khỏi vai tôi, tôi nói tiếp - Quên sông Duềnh đi. Từ nay ông ở lại đây với tôi. Công việc nhiều và thu nhập không đến nỗi nào.

Khang hỏi:

- Có ổn không?

- Biển mênh mông có gì mà không ổn - Tôi nói.

*

*   *

Khang thực sự là người của sông nước. Anh có sức khỏe và sự dẻo dai đến kỳ lạ. Ngoài công việc được giao là kéo lưới, Khang không nề hà bất cứ việc gì khác. Từ lau sàn tàu, vá lưới, chuyển nước ngọt, ướp cá, nấu nướng... Anh béo ra và đen hơn. Khuôn mặt đã mất dần nét vẻ lạnh lùng, lầm lì. Anh không còn ngồi như một bức tượng đầu mũi tàu hàng giờ đồng hồ vào những đêm biển lặng. Mỗi kỳ nhận lương, nộp tiền ăn xong, còn lại đồng nào anh xếp phẳng phiu vào cái hộp gỗ để đầu giường nằm. Một hôm anh ngồi vá áo, bỗng ngửng đầu hỏi tôi:

- Một con ngựa bao nhiêu tiền nhỉ?

Tôi nhớ chuyện Khang từng kể về ông già người dân tộc Khơ Me, nhưng hỏi đùa:

- ở trên biển, ông tính chuyện mua ngựa à?

- Một con ngựa bao nhiêu tiền nhỉ? - Khang lặp lại câu hỏi. Giọng nói và nét mặt đầy vẻ quan trọng.

- Khoảng tám chục đồng.

- Thế thì đủ rồi! - Khang nói, mặt ngời lên - Hôm nào ông về đất liền giúp gửi cho ông già hộ tôi nhé.

- Mai tôi về tỉnh họp, sẽ gửi.

Khang nói:

- Tôi sẽ viết thêm lá thư. Phải một lá thư dài. Chợt thấy những ngón tay của anh lóng ngóng với cái kim khâu tí xíu, tôi bất giác buông tiếng một thở dài:

- Bốn chục tuổi rồi ông Khang ơi! - Tôi nói, cố lấy giọng vui vẻ.

- Thì sao? Khang hỏi, giọng khàn khàn.

- Ông định tu trên tàu này à?

Khang nhìn tôi đăm đăm, vẻ như thăm dò, rồi phá ra cười.

- Trên tàu của ông toàn giống đực thế này thì rồi tôi cũng đến thế thôi.

Tuần trăng ấy, tôi dẫn Khang lên nhà máy Đông lạnh Đò Điệm. ở đó có cô thủ kho tên là Hà, người to béo, nhưng khuôn mặt lại nhỏ nhắn, tươi tỉnh. Hà từng đi thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, luẩn quẩn thế nào không chồng, không con. Sau đó, Khang còn đi một mình lên gặp Hà hai lần nữa. Chuyện có vẻ xuôi xuôi. Tôi hỏi:

- Tổ chức được chưa? Lấy vợ thì cưới liền tay ông ạ.

Khang gãi gãi đầu, há miệng cười.

- Cô ấy bảo, năm sau chứ năm nay năm tuổi của cô. Vả lại, còn phải sửa sang căn nhà tập thể.

Tôi mừng, nói:

- Còn vài tháng nữa thôi. Chuẩn bị đi là vừa.

Ngỡ mọi chuyện tốt đẹp thêm lên. Nào ngờ... Đùng một cái, sau chuyến vào bờ lấy nước ngọt ra, Khang xộc vào phòng tôi, mặt lộ rõ vẻ xúc động. Anh nói, hổn hển:

- Thằng Hưng bỏ cô Tịnh rồi!

- Tưởng việc gì ghê gớm - Tôi thở phào.

Khang không thay đổi nét mặt, không thay đổi giọng nói, nghĩa là đầy vẻ xúc động mà theo tôi là rất vô lý.

- Hắn bỏ cô Tịnh rồi ông ạ.

Có sự liên quan giữa Khang và Tịnh dạo ở sông Duềnh, nhưng đã hai năm rồi. Vợ chồng hắn bỏ nhau thì can hệ gì tới Khang. Tôi bực bội, đập tay vào vỏ tàu:

- Ông đa mang chuyện thiên hạ làm gì. Hãy lo cho cái thân của ông ấy.

- Nhưng...

- Nhưng... nhưng cái gì - Tôi ngắt lời Khang, tự cho mình cái quyền bảo vệ anh, giọng tôi lâu mỗi gay gắt - Quên cái bữa mưa trên sông Duềnh ấy đi! Người ta chung thủy với ông lắm à?.

Bất ngờ Khang khoát tay:

- Ông nhầm - Khang nói cụt ngủn.

- Quên. - Tôi nói.

- Ông nhầm - Khang nhắc lại, lần này không chỉ cụt ngủn mà còn hơn thế,  giọng anh như hai viên sỏi ném vào tai tôi lăn long lóc trong vỏ não.

Tôi tức tối bỏ Khang lại một mình đi về phía đuôi tàu. Khang chạy theo tôi:

- Rắc rối ở chỗ là thằng Hưng bảo Tịnh lăng nhăng với tôi nên nó bỏ, nó ly dị.

- Láo toét! Muốn nói gì thì nói à? - Tôi rít qua kẽ răng. Nhưng liền ngay đó, tôi bỗng nhận ra sự việc phức tạp chứ không đơn giản như tôi tưởng. Tôi trấn an Khang và cho cả mình: - Hắn lấy cái vu vơ gán cho Tịnh thôi. Con người hắn, ông còn lạ gì.

Khang nói, như nói cho mỗi mình nghe:

- Bữa trên sông ấy có ai biết đâu. Với lại, trên thuyền chòng chành...

Tôi ôm lấy vai Khang. Con người to lớn tính khí cứng cỏi đánh đấm khắp chiến trường, đạn thủng ngực, thủng bụng vẫn cứ khỏe như vâm, vậy mà lúc này mắt mở to đầy vẻ hoang mang. Tôi bỗng thấy con tim mình nhói đau:

- Ngày mai về huyện xem thực hư thế nào?

- Ông đi với tôi nhé - Khang nói. Tôi nhận thấy những ngón tay anh run run trong bàn tay mình.

... Ngày mai mà tôi nói ấy, trời mưa rả rích. Gió mùa đông bắc thổi thông thống. Trời sùm sụp màu chì. Tôi chở Khang trên chiếc xe máy cũ kỹ tôi mua từ hồi còn ở bộ đội. Đường đi ướt át, nhiều đoạn bùn lầy lội. Khang nín thinh như thóc. Gần trưa chúng tôi đến phố huyện. Việc tìm nhà Hưng chẳng mấy khó khăn. Hình như anh ta là một nhân vật có tiếng tăm; hỏi ai cũng biết. Dân phố huyện kể, họ đã ra tòa ly dị. Người chồng lên cao hơn, chuyển ra tỉnh, còn cô vợ bồng con về quê.

Chúng tôi đứng trước ngôi nhà của vợ chồng Hưng giờ đã chuyển sang chủ khác. Khang có vẻ bần thần. Tôi vừa sửa cái mũ vải bị gió đánh lệch trên đầu anh vừa nói:

- Về thôi! Không dính dáng gì đến chúng mình nữa.

Khang nặng nề và lóng ngóng trèo lên xe tôi. Ra khỏi phố huyện một quãng, anh bỗng đập mạnh lên vai tôi.

- Dừng lại.

- Sao thế?

- Ông về trước. Tôi rẽ qua làng, chiều xuống tàu.

- Thì để tôi chở ông. Làng còn xa mà đường khó đi.

- Mặc tôi.

Biết tính Khang, tôi không nói gì thêm. Mà thực ra cũng không kịp nói gì, vì xe vừa dừng, Khang đã rẽ theo con đường nhỏ chạy thẳng vào giữa một cánh đồng hun hút. Phía cuối cánh đồng là những rặng cây xanh mờ. Tôi đứng nhìn theo bóng Khang một lúc rồi chạy xe về phía biển.

Chiều ấy Khang không xuống tàu như lời hẹn. Suốt đêm cũng không thấy. Nửa buổi sáng, có một thằng bé chừng mười lăm tuổi chèo thuyền ra cửa sông Duềnh tìm đến tàu tôi. Sau khi cẩn thận hỏi tên tôi, nó trao cho tôi một tờ giấy vỏn vẹn mấy hàng chữ nguệch ngoạc.

“Con của Tịnh nhiễm chất độc màu da cam. Thì chắc chắn là con tôi rồi. Con tôi, ông ạ. Chứ thằng Hưng biết chiến tranh là gì đâu. Vậy nên tôi ở lại làng, chưa hẹn được ngày xuống tàu với ông. Cảm ơn ông đã nuôi tôi thời gian vừa qua.

                                                         Bạn của ông

                                                     Khang”

Những con chữ chao lắc trước mắt tôi. Tôi áp ngực vào mạn tàu gọi với theo thằng bé, chí ít cũng phải nhắn gửi Khang một lời gì đó. Nhưng con thuyền ba ván đã đi xa vào tận cửa sông Duềnh. Nơi đó sóng đang cồn lên trắng xóa cả một vùng./.      

 

 CHUYỆN QUANH QUÁN CÂY DỪA

 

Gần trung tâm thị xã N, có một lối ngõ lởm nhởm đất đá nối đường phố chính với cái ao bèo tây vốn là hai cái hố bom liền nhau thời chiến tranh. Hai bên lối ngõ chen chúc những ngôi nhà lợp phibrô xi măng có những ô cửa sổ hình vuông đơn điệu giống y nhau. Nơi lối ngõ giáp đường phố chính Đinh Tiên Hoàng sừng sững hai tòa nhà cao tầng của ông Nghiêm Hoàn và ông Trịnh Soa. Nhà ông Hoàn ở phía phải, nhà ông Soa ở phía trái. Bao nhiêu năm đã trôi qua, hai tòa nhà ấy chẳng đưa lại cho lối ngõ chúng tôi chút vinh dự, sinh động nào. Mùa đông ngõ lỏng bỏng nước trông ảm đạm và hoang vắng, mùa hè thì bạc phếch, mù mịt bụi trắng quẩn trong tiếng u u của gió Lào từ phía rừng thổi về.

Khoảng năm mươi mét từ ao bèo tây lên, bên lề lối ngõ có một cây dừa thân uốn cong vẻ nhẫn nhục, nín nhịn nhưng lá thì xếp lớp xanh ngợi vươn rộng lên trời. Cứ đêm trăng sáng lá dừa xào xạc ném thia lia những mảnh vàng xuống dọc lối ngõ nom thật thích mắt. Cách gốc dừa chục bước chân chơ vơ túp lều của ông lão chữa khóa thưng phên tre, lợp tranh cọ. Phên và tranh cùng lên màu nâu đất. Lão là người đặc biệt nhất trong đám dân lối ngõ. Suốt ngày lão hì hục mài dũa những cái chìa khóa đủ cỡ giữa rất nhiều ống khóa nằm lăn lóc trên mặt đất lấm tấm bụi đồng vàng ươm. Khuôn mặt lão có nhiều nét linh lợi, đôi mắt còn rất sáng so với tuổi 60. Chúng tôi gọi lão là nhà thông thái vì lão biết rất nhiều chuyện đông, tây, kim, cổ và thường nói ra những câu ý vị sâu sắc về con người, về cuộc đời. Những lúc lão kể chuyện, khuôn mặt lão nhuốm vẻ u uẩn còn giọng nói thì trầm đục như vọng từ đáy giếng sâu vậy.

Đến một ngày, một ngôi nhà xinh xắn mọc lên bên gốc dừa và túp lều lão chữa khóa bớt đi vẻ chơ vơ. Ngôi nhà xây tường gạch, quét ve xanh, lợp tôn lạnh, cửa rả nom rất chắc chắn. Thợ làm nhà người xứ khác. Nghe đồn ông Nghiêm Hoàn thuê họ làm khoán theo cách thức giao chìa khóa nhận tiền. ấy là ông ta chuẩn bị cho ngày về hưu - chúng tôi thầm nghĩ vậy. Rồi vào một buổi sáng tươi tắn, hình như của tiết thanh minh, một chị phụ nữ xuất hiện dưới gốc dừa. Tên chị là Yên, gốc gác vùng này. Bươn chãi hàng chục năm ở vùng núi phía Bắc, nay mỏi mệt chị về lối ngõ chúng tôi tìm sự yên ổn. Chỉ biết vậy, không ai tìm hiểu thêm. Dân xích lô chúng tôi kiêng nhất việc nhúng mũi vào chuyện người khác.

Một tuần sau ngày chị đỏ lửa, một cái xe bò bốp chở về từng chồng bàn ghế Xuân Hòa tuyền màu nâu. Chị Yên khai trương cửa hàng bán bia, rượu với nộm hoa chuối rừng. Lúc đầu chỉ dân xích lô chúng tôi tới quán chị. Dần dà người ngoài phố vào; chen chúc. Chẳng biết từ đâu ra cái tên: Quán Cây Dừa. Quán Cây Dừa hấp dẫn khách ngoài vẻ mềm mại của chị Yên, hương vị rất riêng của món nộm còn bởi bóng râm của cây dừa và tiếng xào xạc, xào xạc mơ hồ trên đầu và bốn phía chung quanh. Càng ngày chúng tôi càng nhận ra chị Yên là người phụ nữ có tuổi duyên dáng, lịch sự, dọc lối ngõ không có loại đàn bà như thế. Cánh đàn ông chúng tôi thoắt cái trở nên nhanh nhẹn hơn, vui vẻ và lắm lời hơn, còn các bà vợ của chúng tôi thì không giấu sự bực bội. Họ kéo lên trụ sở khối phố phàn nàn cảnh ồn ào còn dự đoán ra tình trạng mất trật tự, trị an ở quán Cây Dừa. Khối trưởng, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa nghỉ hưu thuyết phục họ về cơ chế thị trường, về không khí dân chủ xã hội, về khoản thuế thu được ở quán Cây Dừa, về số tiền chị Yên góp một cách hào phóng vào quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ phòng chống bão lụt, quỹ xóa đói giảm nghèo, quỹ khuyến học... Khối trưởng còn cả cười mà rằng, chị Yên chỉ làm cho bọn đàn ông trong lối ngõ tử tế hơn, bảo hư hỏng là bịa đặt. Những bà vợ chúng tôi nghe, xuôi tai. Họ thích nhiễu sự, chứ ai cũng biết quán Cây Dừa đã đưa tới cho ngõ cái không khí vui vẻ chưa từng có.

Thế cho đến năm thứ hai kể từ khi chị Yên xuất hiện và là năm thứ năm ông giám đốc Sở Văn hóa làm khối trưởng, một lớp cán bộ lãnh đạo mới thay thế lớp lãnh đạo cũ từ khối lên phường, lên thị, lên tỉnh thì sự ưu ái của chính quyền đối với chị Yên không còn nữa. Khối trưởng mới chính là ông Trịnh Soa. Trịnh Soa người lùn, mặt lạnh lùng. Ông ở nhà một mình. Vợ và hai cô con gái ở ốt bán hàng tạp hóa ngay trong chợ tỉnh. Ngỡ như công việc khối trưởng của ông chung quy chỉ ở mỗi quán Cây Dừa. Ông ra rất nhiều quy định bắt chị Yên phải tuân thủ. Nào là, không được bán quá 9 giờ đêm, không được bán thuốc lá và rượu ngoại; nào là không được mở nhạc lớn, không được để khách say rượu, không được mua hoa chuối rừng của lão già người dân tộc Chứt từ rừng về vì biên giới đang mất ổn định, vân vân... Loáng thoáng đây đó rằng, chị Yên có quá khứ không rõ ràng. Tôi hỏi lão chữa khóa, lão chỉ thở dài không đáp.

Một sáng trời mưa rào, gió bắc hun hút thổi, chúng tôi mở cửa đã thấy ông Trịnh Soa giương cái ô màu tím hoa bèo tây đi về phía quán Cây Dừa. Chúng tôi nói chuyền nhau: “Sắp có chuyện”. Chúng tôi nói vậy vì trước đó đã nghe phong thanh quán Cây Dừa sắp đóng cửa vì chị Yên không có chứng minh thư nhân dân. Đã nói một lần là dân xích lô chúng tôi kiêng nhúng mũi vào chuyện người khác. Vậy nhưng chẳng hiểu vì sao, từ lúc nào chúng tôi lại cứ quan tâm đến chị chủ quán đang ngày mỗi mất dần vẻ duyên dáng, tươi tắn. Khi ông Trịnh Soa gõ cộc cộc vào cửa quán Cây Dừa, chị Yên hiện ra với khuôn mặt trắng xanh, mái tóc rũ xòa trên vai, thì da thịt tôi rân rân cả lên. Tôi bước ra sân và thấy cánh cửa quán Cây Dừa đóng mạnh. Trịnh Soa lùi lại mấy bước. Không nói chúng ta cũng đoán biết ông ta tức giận đến mức nào. Chúng tôi nghe tiếng ông rõ mồn một trong tiếng gió xào xạc trên lá dừa: “Tôi sẽ lệnh đóng quán. Sẽ còng cái còng số 8 vào tay cô như chồng cô đấy”. Chúng tôi biết thêm, chồng chị Yên ở tù. Còn vì sao thì mãi sau này mới rõ.

Trịnh Soa về được một lúc thì chị Yên ra khỏi nhà. Chị lên chiếc thuyền nan của thằng Bá Còi làm nghề hái rau muống nổi giữa ao bèo tây. Chị cho thuyền lách giữa những cụm bèo, nhìn xa như những nấm mồ loang lỗ những vệt màu xanh và màu tím, sang bờ bên kia, nơi có mấy ngôi nhà cao tầng của bộ đội biên phòng và một dãy nhà tù trắng toát. Đến giữa trưa mới có vài làn gió mềm mại từ phía biển thổi lên. Lần đầu tiên dân xích lô chúng tôi ca cẩm về sự chậm chạp của thời gian. Chập tối chị Yên trở về, dáng uể oải, khuôn mặt buồn thiu. Tôi đón chị giữa ngõ, hỏi: “Có chuyện gì hả chị? Cứ nói, dân xích lô chúng tôi sẽ bảo vệ chị”. Chị gượng cười, cảm ơn tôi và không nói gì thêm.

Nửa đêm hôm ấy, ông Nghiêm Hoàn xuất hiện. Tuy cùng lối ngõ, nhưng chúng tôi không quan hệ với ông. Ông đi làm bằng ô tô con, ngày ở công sở, tối chẳng thấy bóng dáng ông đâu. Vì vậy, cái sự giữa đêm hôm khuya khoắt ông tới quán Cây Dừa thu hút trí tò mò của dân dọc lối ngõ. Chúng tôi nghĩ, chắc là khối đối xử quá đáng với chị Yên nên ông Hoàn đến tìm hiểu hư, thực. Chị Yên đón ông Hoàn vào. Và lập tức cửa được đóng kín. Một mảnh trăng lưỡi liềm uốn cong trên nền trời chi chít sao vừa đủ hắt bóng thẫm đen của tán lá dừa lên túp lều lão chữa khóa và kéo một vệt dài dọc lối ngõ. Vài người rỗi rãi đứng trong bóng thẫm đen ấy về sau kể lại rằng, họ thì thào không nghe rõ lời, chỉ rõ tiếng khóc nấc của chị Yên.

Ông Nghiêm Hoàn vừa ra khỏi quán Cây Dừa thì một chiếc xe ô tô con từ ngoài phố chính gầm gừ chạy vào đỗ ngay trước mặt ông Hoàn. Từ trên xe bước xuống hai người, một đàn ông một đàn bà. Chúng tôi nhận ra ông Trịnh Soa và bà Nga - vợ ông Nghiêm Hoàn. Mãi mấy ngày sau đó, chúng tôi cũng chưa hết sửng sốt bởi sự ồn ĩ xẩy ra ở quán Cây Dừa đêm ấy. Bà Nga - người đàn bà thường mặc áo quần màu trắng, đi xe ô tô con màu sữa, xổ ra tất cả những từ thô tục đến dân xích lô chúng tôi cũng chưa một lần dùng. Tội nghiệp chị Yên! Chị đưa hai bàn tay run run ôm lấy khuôn mặt ướt nước mắt, trong ánh trăng nó lóe sáng lên. Và trời ạ, chị không nói lấy một lời. Sáng ra, tôi vừa dụi mắt vừa hỏi lão già chữa khóa: “Bác nói sao về vụ việc đêm qua”. Lão buồn rầu đáp: “Hơn cả đánh ghen!” - “Nguyên do vì đâu?”. Lão phẩy tay: “Chuyện dài lắm”. Rồi ra về.

Những ngày sau đó, trụ sở khối phố liên tục các cuộc họp: chi bộ, phụ nữ, đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh... Nội dung quay quanh quán Cây Dừa. Ông Trịnh Soa nói về trật tự trị an, về an ninh chính trị, về các tệ nạn xã hội, về môi trường văn hóa cả về tác hại của bia, rượu, thuốc lá. Cứ như cả khối, cả thị xã chỉ còn mỗi vấn đề cản trở sự đoàn kết, phát triển là nằm gọn ở quán Cây Dừa.

Một lần gặp chị Yên, tôi nói: “Thấp trời phải đi còng, chị nói vài lời xin ông ta đi”. Chị cười, nụ cười buồn hơn là vui: “Chú bảo tôi xin cái gì? Vả, chú chưa hiểu ngọn nguồn, cơn cớ đâu”. Rồi chị đi đi lại lại trước mặt tôi, ngực ưỡn lên, mái tóc chải vồng đầy vẻ tự tin, thách thức.

Quán Cây Dừa vắng khách. Một cái gì đó thật nặng nề trùm lên lối ngõ chúng tôi. Chúng tôi ngồi ở quán chị Yên cứ có cảm giác bứt rứt không yên. Dân ngoài phố không thấy ai vào. Lá dừa vẫn xào xạc, bóng râm vẫn mịn màng nhưng mà chỉ để cho chị Yên và lão chữa khóa ngồi với nhau bần thần ngỡ hồn vía của họ bay đi đâu đó.

Rồi bỗng có tin, ông Nghiêm Hoàn buộc phải nghỉ việc, chờ nhận sổ hưu. Chuyện rò rỉ chỗ này, chỗ nọ nghe rằng, ông ta dính dáng tới một vụ buôn bán ma túy hồi nào đấy. Tôi gặp lão chữa khóa. Lão nói với giọng tức tối: “Đấy là mẹo mực Trịnh Soa. Chao ôi, cái mẹo!”. Mấy ngày liền không thấy bóng chị Yên. Quán Cây Dừa vắng vẻ. Mấy anh xích lô không khách gác càng xe vào gốc dừa thiu thiu ngủ. Thế rồi chúng tôi biết chị Yên đã bỏ đi. Vài người lên gặp khối trưởng Trịnh Soa. Ông ta máy máy mắt và cười mỉm.

Một nỗi buồn xâm chiếm lòng tôi. Tôi bỗng thấy nhớ chị Yên mỗi khi nhìn lối ngõ vắng hoe hoắt và cây dừa uốn cong xuội từng vệt bóng râm mịn màng không yên trên mái quán và trên lối vào túp lều lão chữa khóa.

Lại nghe, ông Nghiêm Hoàn bỏ nhà đi theo chị Yên. Đèn nhà ai rạng nhà nấy, chúng tôi nào biết rõ nguồn cơn. Dù sao đi nữa, nếu lời đồn kia là đúng sự thực thì chị Yên không phải sống một mình. Dân xích lô chúng tôi hai phần ngày có người ở kề cạnh nên sợ cái sự một mình lắm.

*

*   *

Vào một tối nóng nực không ngủ được, tôi đi dọc lối ngõ hóng gió rồi rẽ vào lều lão chữa khóa. Lão đang nửa nằm nửa ngồi trên cái ghế xích đu gỗ giữa sân, ngửa mặt nhìn trời. Lão chỉ cho tôi tấm chiếu cói trải cạnh đấy, ý bảo tôi ngồi xuống. Tôi dịch lại gần lão, buông giọng hỏi: “Mấy bữa thu nhập thế nào, bác?”. Lão đáp: “Tớ nhúc nhắc tay chân cho vui chứ tính chi thu nhập”. Tôi không ngờ, lão tỏ ra bực bội bởi câu hỏi của tôi. Là tôi hỏi để mà hỏi, chứ có hàm ý sâu xa gì đâu. Tôi biết, lão có mỗi cô con gái làm giám đốc thư viện tỉnh, chồng là trưởng phòng gì đó ở sở điện lực, đời sống khá giả, đặc biệt là cả hai vợ chồng đều rất thương lão. Lão từng khoe nhiều lần vậy. Vợ lão sinh con tròn tám tháng thì mất. Một cơn sốt rét ở rừng Trường Sơn thời chiến tranh ủ náu trong người vợ lão mà lão không hay biết. Lão nói tiếp: “Tớ sắp có cháu. Tớ sẽ về ở với vợ chồng con gái tớ. Sắp xa cái ngõ này rồi”. - Tôi nói: “Bác về, chúng tôi buồn lắm”. Lão nhìn lên mấy cái lá dừa trên đầu, trong ánh trăng dọi từ trên xuống, ánh điện chiếu từ dưới lên, nom hệt những tấm thủy tinh, giọng trách móc: “Tớ chỉ sợ các cậu không biết buồn thôi”. Tôi nói theo suy nghĩ của mình: “Bao nhiêu là chuyện buồn từ ngày chị Yên về đây”. Lão quay nhìn tôi: “Nhưng mà không phải vì chị ấy”. Thấy lão quan tâm đến điều tôi vừa nói, tôi hỏi: “Tin đồn ông Nghiêm Hoàn, hư, thực ra sao hở bác?”. Lão đáp: “Lâu lắm rồi tớ và ông ấy không quan hệ với nhau. Chao ôi, con người thời nay sâu sắc lắm, nhiều mưu ma, chước quỷ lắm, khó hiểu lắm”. Theo lời lão, hiện lên trước mắt tôi một cái gì đó lờ mờ, không rõ rệt. Tôi nói: “Bác kể cho cháu nghe đi! Bác đừng nói là bác không biết”. Những đường nét trên khuôn mặt lão run rẩy, ít nhất đây là cảm giác của tôi. Lão cựa quậy trên ghế, đập tay lên đầu, thở dài. Cuối cùng lão nói: “Thì tớ kể vậy.... Chuyện lâu rồi, từ hồi còn chiến tranh cơ. Bấy giờ tớ, ông Nghiêm Hoàn và ông Trịnh Soa ở với nhau. Ông Hoàn đại đội trưởng, ông Soa phó, còn tớ thuộc loại điếu đóm. Bọn tớ sống với nhau thuận hòa lắm. Thỉnh thoảng tớ về quê xách lên chai rượu, ba thằng xúm lại uống nhắm với lá bứa hoặc hột bo bo. Lá bứa ở rừng chua chua, bùi bùi hợp với rượu sắn. Hồi ấy làm chi có rượu nếp trong vắt, sủi bọt tăm như của chị Yên giờ. Chao, không còn trưởng, phó chỉ là bạn bè. Thế cho đến ngày hòa bình. Thanh niên xung phong tớ chuyển sang làm giao thông. Chiến tranh chần cho những con đường nát ra, nom đến thương. Công việc của bọn tớ có khi còn vất vả hơn cả trong chiến tranh. Cái chết không rình mò bọn tớ nữa nhưng nhiều người trong bọn tớ lâm bệnh, chữ nghĩa bây giờ gọi là bệnh công thần ấy. Chẳng là mỏi mệt nhiều rồi, thân xác quăng quật nhiều rồi, muốn được sạch sẽ một chút, thảnh thơi một chút. Vậy mà cứ vẫn lại xẻng lại cuốc, đất, đá.

Lão im bặt, móc dưới ghế lên cái điếu thuốc lào, nhưng lão không hút mà chống nó xuống đất, gác cằm lên miệng điếu. Tấm thân lão còng gập xuống và vì vậy khuôn mặt lão chìm vào bóng đêm. Lão nói tiếp, giọng trở nên day dứt: “Người lâm bệnh nặng là Trịnh Soa. Hắn chạy thầy, chạy thuốc ở Tỉnh đoàn. Rồi đùng một cái, có công văn của Tỉnh đoàn xin hắn lên làm Trưởng Ban tuyên giáo. Nhưng Trịnh Soa không được đi. Đoạn này tớ không hiểu rõ lắm, chỉ biết là Nghiêm Hoàn đã ghi thế nào đó vào lý lịch Trịnh Soa. Tớ hỏi. Nghiêm Hoàn đáp: “Phẩm chất như hắn (tức Trịnh Soa) mà làm tuyên giáo làm sao bảo vệ được đường lối của Đảng. Riêng mỗi chuyện sinh hoạt đã đáng kỷ luật rồi”. Của đáng tội, vùng bọn tớ đóng quân con gái đã nhiều lại đẹp, lại thiếu đàn ông, họ bám lấy Trịnh Soa như sung. Rồi tớ lại không hiểu, người thay Trịnh Soa lên Ban tuyên giáo Tỉnh đoàn lại chính là Nghiêm Hoàn. Rồi tớ cũng lại không hiểu, người thay Nghiêm Hoàn làm đại đội trưởng không phải cấp phó Trịnh Soa theo lẽ thường mà lại một ả trung đội phó. Tớ ngẫm, đời sinh ra đường đi cho con người trước khi sinh ra nó. Nghiêm Hoàn đi chưa đầy hai tháng thì có chỉ thị trên về giải thể thanh niên xung phong. Chao ôi, nháo nhác cả lên. Kẻ đi học, người chuyển ngành, người về quê cày ruộng. Tớ và Trịnh Soa chuyển về Tỉnh đoàn. Vậy là, bọn tớ lại nhốt chung một chuồng. Trịnh Soa được đề bạt làm Trưởng phòng tổ chức, tớ may phước giữ chân bảo vệ cơ quan. Bọn tớ sống với nhau theo kiểu “bằng mặt không bằng lòng” nay nhan nhản ấy. Dù sao thì vẫn yên ổn.

Lão ngừng kể. Chung quanh đêm tĩnh lặng, nghe rõ tiếng lá dừa chạm khẽ vào nhau trong khoảng không bàng bạc ngay trên đầu chúng tôi. Tôi nói, không giấu nỗi hồi hộp: “Vẫn thấy yên ổn”. Lão trút một tiếng thở dài, rồi tiếp: “Mấy tháng sau, bắt đầu chuyện khác. Người ta nhận về một cô gái chưa đầy hai mươi tuổi, thua bọn tớ đúng một giáp. Từ nhỏ đến lúc ấy tớ chưa thấy người con gái nào xinh đẹp, dịu dàng như cô ta. Đời này tớ cũng không thấy nữa. Tớ đã nói một lần với ai đó rằng, thế gian mười chuyện có tám dính tới đàn bà. Nghiêm Hoàn và Trịnh Soa đều muốn yêu cô ấy, muốn làm chồng cô ấy. Khi hai thằng đàn ông nhìn một con đàn bà, tất sinh sự chẳng lành”.

Không nén được, tôi hỏi: “Sự ấy thế nào?”. Lão lại thở dài, lần này tiếng thở dài nghe buồn não nùng. “Ôi biết bao nhiêu là chuyện, không đồng đội, đồng chí chi nữa giữa ông Nghiêm Hoàn và Trịnh Soa. Thời trai trẻ, Nghiêm Hoàn thuộc loại đẹp mã, còn Trịnh Soa thấp lùn, mặt mũi tối om om. Cô Yên quý mến ông Hoàn rõ vân bàn tay. Đã nhiều lần tớ thấy Nghiêm Hoàn chở cô ấy về quê trên cái xe đạp Liên Xô cao lồng ngồng. Khổ là Trịnh Soa lại là Thủ trưởng trực tiếp của cô gái trẻ ấy. Đừng tưởng địa vị quyền lực không là cái chi đối với tình yêu. Cô Yên bị Trịnh Soa giám sát như một tù nhân. Tớ thấy chướng mới nói với Trịnh Soa. Tớ nói thế này: “Rõ là cô ấy không yêu ông, hà cớ chi ông cứ chọc gậy bánh xe vậy”. Trịnh Soa cười khanh khách một lúc rồi bảo: “Hắn chọc gậy vào đời tôi, ông không nhớ à? Sòng phẳng! Nghe chửa?”. Trời đất! ở đời có thứ sòng phẳng vậy đó cậu ạ. Thế rồi, một bữa cũng độ này, vào chừng gần nửa đêm như bây giờ, tớ thấy cô Yên đi về phía phòng Trịnh Soa. Tớ ngáng đường hỏi: “Cô đi đâu?”. Cô ta nói như hét vào mặt tớ: “Thủ trưởng con gọi” - “Sao gọi vào lúc đêm hôm thế này?”. Tớ hỏi tớ hơn là hỏi cô ấy. Cô ấy bỗng bật khóc và bỏ chạy. Tớ thương cô ấy còn vì cả tính bỉ tiện của tớ nữa, tớ đã không tự mình bảo vệ cô ấy mà đi mách với Nghiêm Hoàn. Chuyện gì xảy ra nó đã xảy ra. Cậu có thấy cái sẹo bên má Trịnh Soa không? Bao nhiêu là năm rồi, cái sẹo vẫn trơ trơ trên mặt ông ta. Cơ quan họp suốt ngày. Trịnh Soa bảo, Nghiêm Hoàn đánh ông ta. Nghiêm Hoàn im lặng. Cô Yên khai, trong lúc xô xát, Trịnh Soa ngã đập mặt vào gờ bàn. Cuối cùng người ta đổ mọi tội lỗi lên đầu cô ấy. Từ quan hệ nam nữ bất chính đến gây mất đoàn kết nội bộ, đến xúc phạm đồng chí mình, đến không tôn trọng lãnh đạo.

Không ai bênh vực cô ấy. ở đời có những chuyện như vậy. Người ta vì cái lợi riêng cho mình mà bán sự thật cho quỷ. Tớ cũng thuộc loại ấy. Tớ thấy Nghiêm Hoàn cầm thanh gỗ gài cửa chạy khỏi phòng Trịnh Soa, vứt xuống hồ nước như thế nào. Nhưng tớ ngậm hột thị. Tớ tồi tệ thế đấy. Ngay hôm sau, cô Yên lặng lẽ bỏ cơ quan ra đi. Chẳng ai biết cô đi đâu và cũng chẳng ai có ý định tìm cô. Thế cho đến năm bọn tớ sang tuổi 36, tớ xin về hưu non, Nghiêm Hoàn lên tỉnh, Trịnh Soa sang ủy ban thị rồi không hiểu lý do gì cũng về hưu trước tuổi.

Lão bỏ tôi ngồi một mình đi vào lều. Từ trong cái khoảng không tối lờ mờ ấy phát ra tiếng lanh canh như tiếng cốc thủy tinh va nhau và tiếng lão ca một câu dặm lê thê. Lâu sau, lão quay ra, dúi vào tay tôi một ly rượu. Dường như không để ý câu chuyện lão kể tác động đến tôi thế nào, lão nằm ngửa trên ghế, tiếp tục một câu hát dặm khác không rõ lời và âm điệu vẫn lê thê như thế. Rượu nóng ran trong ngực tôi. Tôi hỏi: “Sau đó thế nào ạ?”. Lão nói tiếp, vẻ khó khăn: “Sau cái vụ ồn ĩ ở Tỉnh đoàn, cô Yên biệt vô âm tín, nhưng chuyện vẫn không êm cho. Có đơn kiện Nghiêm Hoàn. Tỉnh mới cử bà Nga về thanh tra. Ngõ ngách thế nào, cùng với biên bản kết luận Nghiêm Hoàn vô tội là giấy đăng ký kết hôn. Trịnh Soa không đến dự đám cưới Nghiêm Hoàn và bà Nga, bấy giờ là đồng chí Nga, phó ban thanh tra tỉnh. Gặp tớ Trịnh Soa nhích mép: “Người ta cưới chạy tang, chứ hắn cưới chạy tội”. Tớ vỗ vai Trịnh Soa nói: “Bao giờ thì các ông tử tế với nhau hả?. Trịnh Soa bảo: “Khi bốn dài, hai ngắn cụ ạ”. Chao ôi! Sao người ta thù nhau lâu thế? Hôm ấy tớ cảm thấy buồn; chưa bao giờ tớ buồn thế. Tớ chui vào quán rượu bên bến đò sông Duềnh uống một mình. Tớ nghĩ vẩn vơ. Rồi nghĩ tới cô Yên. Rồi tớ ghét sự vô tình của Nghiêm Hoàn. Tớ cạch mặt ông ta từ đó. Mãi sau này, Nghiêm Hoàn tìm đến tớ. Thì cũng phải có một ai đó mà trút bỏ nỗi niềm chứ. Nghiêm Hoàn kể cho tớ nghe về cô Yên. Sau khi bỏ cơ quan Tỉnh đoàn, cô nhằm phía Bắc mà đi. Cuối cùng vào làm công nhân trồng chè ở Yên Bái. Nghiêm Hoàn bảo, tâm hồn cô như cái búp chè đã sấy khô khép kín hết lớp lá này đến lớp lá khác. Tớ hiểu lối ví von ấy. Đến tuổi ba mươi, cô Yên vẫn không có chồng. Vào cái kỳ thiên hạ coi cái sự cô không chồng là lẽ thường thì một anh công nhân xây dựng không cha không mẹ, không nhà, không cửa cưới cô làm vợ. Anh ta thua cô gần chục tuổi và hiền như củ nâu rừng. Chao ôi! (Không biết lần thứ bao nhiêu lão kêu “chao ôi”). Tai họa như bụi cứ lơ lửng trên đầu con người. Ăn ở ấm êm được khoảng 2 tháng thì anh chồng bị bắt. Anh ta xách hộ cái túi cho một cô gái trẻ môi son, má phấn, trong đó đựng thuốc phiện hay hê rô in gì đó. Tình ngay lý gian, anh ta lãnh án 10 năm tù. Lúc lập hồ sơ vụ án, người ta mới tìm về chỗ ông Nghiêm Hoàn vì anh ta lại quê gốc ở thị xã này. Có những sự ngẫu nhiên vậy. Thế nên Nghiêm Hoàn mới tìm gặp được cô Yên. Thì cũng mong chuộc lỗi cho thanh thản tâm can. Tớ đã nói một lần là đời sinh ra đường đi cho con người trước khi sinh ra nó. Rốt cuộc, mấy con người từng yêu nhau, từng thù hận nhau lại nhét vào cái thị xã này, trong cái ngõ này, để rồi tiếp tục sinh sự. Tớ mà như ông Nghiêm Hoàn đấy à, tớ xin cho chồng cô Yên giam ở trại giam khác và không có bãi đất dưới gốc dừa kia. Tôi nói: “Thế thì đã không có chuyện”. Lão có vẻ vui hơn, lão nói: “Chuyện đã hết đâu”. Rồi lão bật dậy, kéo xềnh xệch cái ghế vào lều. Biết tính lão, tôi lặng lẽ ra về, tâm trạng rối bời.

*

*   *

Qua câu chuyện của lão chữa khóa, tôi tin trước sau gì rồi chị Yên cũng sẽ trở lại quán Cây Dừa. Quả vậy, chị về đúng ngày rằm tháng bảy. Suốt buổi sáng mưa bóng mây nhẹ tênh tênh. Lối ngõ chúng tôi vẫn lởm nhởm đá nhưng sạch sẽ còn không khí thì mịn màng, trong trong, ngước lên nom rõ từng đường gân màu xanh đá tua tủa trên tán lá dừa. Chị Yên đi cùng một người đàn ông gầy gò, da trắng nhợt, như hàng năm không gặp nắng. Người ấy là chồng chị, họ Vương tên Thời. Anh vừa ở tù ra. Chị Yên khác hẳn dạo trước. Vẻ an nhiên, tươi tắn nom chị cao ráo hẳn lên. Là ngày rằm, dân hai bên lối ngõ đều ở nhà. Cánh đàn ông chúng tôi được uống đôi ba chén rượu nên đâm ra lắm lời. Chúng tôi kéo đến quán Cây Dừa để biểu lộ sự quan tâm và cả để thỏa mãn trí tò mò. Chị Yên dỡ bàn ghế xếp chồng nơi góc nhà ra đặt thành hai dãy. Bụi đục bốc lên vẩn vơ. Chúng tôi uống rượu chuyện trò tíu tít. Thoảng mùi khói bếp đâu đây nghe thật ấm cúng. Chị kể, 5 năm qua chị đi nhiều nơi giải oan cho chồng, gặp người tốt cũng nhiều và người xấu cũng lắm. Nhưng ít có những người chân chất, nhiệt tình như dân xích lô chúng tôi. Nghe giọng nói và nhìn ánh mắt chị, tôi biết chị nói thật lòng. Chị còn kể những chuyến đi dự các phiên tòa xử bọn mua bán ma túy để tìm bằng được người con gái rắc lửa vào tay anh Thời... Chị biến mất khỏi quán Cây Dừa không phải vì sự cả vú lấp miệng em của bà Nga. Chị đã quen chịu đựng, đã không còn sợ hãi những lời dọa dẫm. Chính hôm ấy, chị lên ô tô ra Nam Định và đã gặp chủ nhân cái túi xách oan nghiệt nọ. Trước khi lĩnh án tù chung thân, cô gái ấy đã giải oan cho chồng chị. Trong buổi chuyện trò ấy, chúng tôi biết thêm, người đã giúp chị theo đuổi việc minh oan cho chồng là ông Nghiêm Hoàn. Cái tin, ông Nghiêm Hoàn dính với buôn bán ma túy có căn do là vậy.

Tối hôm ấy, trước ngõ ông Nghiêm Hoàn có thêm một chiếc ô tô màu xanh đậu cạnh chiếc ô tô màu sữa của bà Nga. Đêm, tiếng khóc vang lên trong nhà ông Nghiêm Hoàn. Ai đó nói ở đâu đó, rồi lời chuyền nhau: “ông Nghiêm Hoàn mất rồi!”. Dù là gia đình ông Hoàn chẳng mấy gắn bó với dân xích lô chúng tôi, nhưng ở chung lối ngõ cũng đủ để chúng tôi vui, buồn với ông ấy.

Theo lệ, khối trưởng Trịnh Soa phải đứng ra lo việc tang lễ. Ông ta cùng chúng tôi rồng rắn kéo đến nhà ông Nghiêm Hoàn. Bà Nga không mặc bộ quần áo màu trắng như chúng tôi thường thấy mà là một bộ đồ đen rộng thùng thình. Bà mở hai cánh cổng sắt, đưa mắt nhìn suốt lượt chúng tôi, cuối cùng ánh mắt bà dừng ở ông Trịnh Soa. Bà nói, giọng lạnh lùng và khô khan: “Ông về đi!”. Trịnh Soa ngước lên, lí nhí: “Sao lại thế, hả?”. Bà Nga không đáp, quay về phía chúng tôi, vồn vã: “Mời các chú vào”. Lần đầu tiên tôi đứng gần bà. Người bà tỏa ra mùi hăng hắc của hoa cải rụng còn khuôn mặt bà thì bờn bợt, nhăm nhít đường nhăn nom thiểu não đến tê tái. Chúng tôi theo bà đi vào cái sân gạch đặt đầy chậu cây cảnh. Ngôi nhà ông Nghiêm Hoàn bao trùm lên chúng tôi bầu không khí nghiêm trọng, có chút lạnh lẽo nhưng không đến nỗi xa lạ như chúng tôi nghĩ.

Ông Hoàn chết đột ngột vì áp huyết tăng vọt làm đứt mạch máu não. Dĩ nhiên chưa ai chuẩn bị cho một cái chết như thế. Dân xích lô chúng tôi tản vào khắp ngõ ngách thị xã sắm sửa từ cây nến, thẻ hương cho đến vải vóc, hòm vỏ.

Đám tang ông Nghiêm Hoàn không nhiều người đưa tiễn, chỉ nhiều vòng hoa và trướng đỏ. Chúng tôi thấy anh Vương Thời đội mũ rơm chống gậy tre và hai người đàn bà mặc áo sô là bà Nga và chị Yên. Sự việc ấy không những khiến dân dọc lối ngõ chúng tôi sửng sốt mà còn gây xôn xao khắp thị xã. Tôi hỏi lão chữa khóa năm lần, bảy lượt, lão mới kể thêm: Trước khi lấy ông Nghiêm Hoàn bà Nga đã có một đời chồng. Anh chồng họ Vương, quê quán đâu không biết. Anh ta làm nghề vẽ truyền thần lang thang vào thị xã chúng tôi từ trước chiến tranh phá hoại của Mỹ. Hồi ấy bà Nga còn là cửa hàng trưởng cửa hàng thực phẩm. Họ bập vào nhau. Năm xẩy ra chiến tranh biên giới, bà Nga đùng đùng đòi ly dị. Người chồng cùng cậu con trai xách túi đi khỏi khu tập thể Ban thanh tra tỉnh và bặt bóng chim tăm cá. Ông Nghiêm Hoàn cưới bà Nga cứ cho là “để chạy tội” như lời Trịnh Soa, nhưng ông có biết bà Nga đã một đời chồng không thì mãi mãi không ai hay.

Những ngày tiếp đó, chị Yên đóng cửa quán Cây Dừa. Tôi gặp lại cảm giác trống trải như những lần trước đây mỗi khi bắt gặp cây dừa thân uốn cong đứng im lặng bên lối ngõ. Một cái gì đó đầy vẻ bí ẩn cứ ám ảnh tôi. Sau buổi giúp ông Trịnh Soa chuyển đồ đạc sang nhà mới bên kia ao bèo tây, tôi lò mò tới túp lều lão chữa khóa. Thay vì mài, dũa xèn xẹt, lão nằm ngửa trên giường đọc sách. Tôi không quan tâm tới việc lão đọc sách gì, cất tiếng hỏi: “Hàng chục năm bà Nga không tìm con trai còn ông Nghiêm Hoàn từ vụ ma túy ấy biết anh Vương Thời là con riêng của vợ mình mà lặng im cho tới trước lúc chết mới nói ra là cớ làm sao hả bác?”. Lão chữa khóa không rời mắt khỏi cuốn sách, lão nói như đọc: “Khi nào cậu ở vào địa vị họ thì sẽ hiểu. Tớ biết đâu cơ chứ!”. Tôi trố mắt nhìn lão./.  


Bình luận