(Đời người có ba lần trở về, lần thứ nhất về với dân,
lần thứ hai về với mình, lần thứ ba về với đất
- Lời người xưa)
Cô Tề về làng sau hơn bốn chục năm. Cô về một mình lặng lẽ. Theo sau cô là một chiếc xe ngựa, thùng xe gọn gàng mấy cái hòm sắt, hòm gỗ. Phía trên cùng có những cái gì đó giống khung kính, giữa trưa, nắng dọi loang loáng. Dân làng từ trong các lối ngõ ùa ra, kéo đến thăm cô. Có ai đó đã mở cửa ngôi nhà xây tường lợp ngói bỏ hoang từ ngày cha cô mất. Nó nằm phía cuối làng, cạnh một cái hố bom từ lâu đã biến thành cái giếng nước ngọt dùng cho cả làng. Chúng tôi đứng giữa sân nhìn vào khoảng trống lờ nhờ như phủ bụi lúa trong nhà và lập tức ngửi thấy mùi ẩm mốc thum thủm. Trong đám đông dân làng có tiếng thở dài nghe thật buồn. Có lẽ đó là nỗi buồn cho một thần tượng bị sụp đổ, cho hình dáng yếu ớt, già nua trước tuổi của cô Tề.
Cô mời chúng tôi vào nhà, đặt lên trên cái bàn gỗ ba đĩa bánh quy, ba đĩa kẹo, ba bao thuốc lá và những chai nhựa đựng nước trắng. Ngoài bọn trẻ con, chỉ một số người ăn chậm rãi. Với dân làng tôi, bánh quy là một thứ xa xỉ; của đáng tội, đã mấy ai biết mùi vị thứ bánh quy vàng màu da lươn ấy. Cô nhìn chúng tôi, đôi mắt còn có vẻ linh lợi lắm, rân rấn nước. Tôi đồ rằng, cô bị xúc động.
Trong số con gái làng trước chiến tranh, tôi nhớ nhất cô Tề. Chẳng phải vì cô xinh đẹp, hay có tài hát hò, đàn sáo mà bởi cô phải mang một nỗi oan vô lý. Bố mẹ cô Tề đều là nông dân từ gót chân lên đỉnh đầu, hiền như lúa và nghèo đói nữa. Họ sinh sáu lần nuôi hai. Cô Tề con thứ, chị đầu tên Vi. Cô Tề khỏe mạnh, làm ruộng không thua một lão nông tri điền nào. Các cuộc thi cấy, thi cày của xã bao giờ cô cũng đạt giải nhất. Cô Di thì khác, dáng mảnh mai, ngực nở, chân dài, da trắng, có giọng ca cải lương nẫu nà lòng người. Cả hai học hết lớp bảy thì nghỉ, ra đồng cày cấy. Năm cô Tề lên mười tám, cô Di hai mươi tuổi, Nhà nước mở công trường thủy lợi bên kia núi Sạc để lấy nước sông Lam tưới cho những cánh đồng chung quanh chân núi. Mấy anh lái xe tải ở trong cái kho hợp tác xã đầu làng. Đêm đêm cô Di thường ra đấy ca cải lương. Mười ngày sau, cô theo một anh lái xe trốn đi mất. Cha con cô Tề cơm gói mói đùm đi tìm cô Di. Lâu lắm họ trở về, người lấm bụi đỏ như chui từ trong lò gạch ra. Nhưng không thấy cô Di đâu. Nhà cô Tề lặng tờ và nhìn vào đâu cũng thấy buồn thiu. Không ai nhắc đến cô Di. Họ tránh tên cô như tránh bãi cứt chó; nhơ lắm, nhục lắm. Nhưng dân làng thì lấy chuyện cô Di làm cửa miệng. Người già bảo, từ hồi lập làng chưa có kẻ đổ đốn, lạc loài như vậy. Cô Di chân trời, góc bể nào? ở nhà, cô Tề bơi ngoi ngóp giữa mạng nhện dư luận: “Chị nào, em ấy”, “Nòi đĩ theo trai”, “Tiếc luật phong kiến đã mất không thì cạo trọc đầu dắt diễu dọc đường, cuối chợ”... Nào cô có tội tình chi? Cô sống giữa đông người mà cô đơn. Mười chín rồi hai mươi... rồi hai bốn tuổi nhưng cô Tề chẳng có một bóng con trai tới chạm ngõ. Chẳng biết cô sẽ buồn tủi, chán chường đến bao giờ nếu chiến tranh không xẩy ra và cô cắt ngón tay lấy máu viết đơn xin nhập ngũ. Cô vào chiến trường mà mặt rựng lên như về nhà chồng. Từ ấy chúng tôi thỉnh thoảng mới nhớ tới cô. Làng có đến bốn mươi hai người ở chiến trường chứ riêng gì cô Tề.
Đến một dạo bỗng rộn lên cái tin cô Tề được ra Hà Nội, ảnh cô Tề được in trên báo, đài đọc bài viết về cô Tề. Một hôm lũ học trò chúng tôi được phát mỗi đứa một lá cờ đỏ làm bằng giấy to bằng bàn tay, thầy giáo bảo, để đón anh hùng. Anh hùng là đồng chí Nguyễn Thị Thanh Tề, là cô Tề làng tôi. Khỏi nói vui thế nào. Cô Tề đứng trên bục gỗ cao ngang đầu chúng tôi. Cô kể tội ác của Mỹ, nói về sự dũng cảm của bộ đội ta, rồi dạy chúng tôi phải chăm học, phải tích cực lao động. Hồi ấy ít loại hoa, chúng tôi phải tặng cô hoa dâm bụt và hoa mẫu đơn hái trên núi Sạc. Sau đó về làng, đứng lại rất lâu trước căn nhà tranh dột nát của bố, cô nói với chủ tịch xã: “Lần này tôi sẽ làm nhà cho bố tôi”. Chủ tịch xã xoa xoa hai bàn tay vào nhau cung cách có vẻ ngượng ngập và nói: “Chúng tôi cũng thấy không phải với ông nhà. Nhưng vừa qua chiến tranh xã còn nhiều khó khăn. Đồng chí hiểu cho. Chúng tôi sẽ huy động thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa ủng hộ công lênh”. Cô Tề dướn cao đôi lông mày thưa, lắc đầu, nói: “Không cần, tôi thuê”. Chủ tịch xã chẳng hiểu sao thở hổn hển, miệng lắp bắp: “Dạ, tuân ý đồng chí”. Nghe bảo, cô đưa tiền cho chủ tịch xã để mua vật liệu, đưa tiền cho bố để thuê thợ nề, thợ mộc. Ngày nhà làm xong, cô bận công việc không về. Chủ tịch xã chủ trì tiệc rượu khánh thành. Dân làng được một bữa no say. Đấy là ngôi nhà mà lúc này chúng tôi đang ngồi chen chúc, vui vẻ ăn bánh quy và uống thứ nước trắng nhạt thếch đựng trong chai nhựa.
Cô Tề không ăn, không uống, chỉ đi đi lại lại, dáng nặng nề, chậm chạp. Vốn to cao, da mặt đã chảy xệ, bụng lùm lùm, hai vú trĩu xuống, nom cô béo một cách bệu rã. Cô hỏi thăm sức khỏe người này người kia, giọng cô nhỏ nhẹ, hơi rè. Tôi nhớ ngày cô về thăm trường, tiếng cô lanh lảnh. Ngày ấy lâu rồi. Từ một thằng bé mặc quần cộc nay tôi đã có vợ và một cô con gái hai tuổi tí xíu như con mèo hen. Cô Tề bảo, một năm ở chiến trường được tính bằng hai năm công tác, nên cô nghỉ trước tuổi. Cô về làng, ở với dân làng là dễ chịu nhất. Chúng tôi không nghi ngờ về điều ấy. Có tiếng bỗ bã nhưng dân làng tôi cũng tế nhị, không ai hỏi chuyện chồng con của cô.
Ra khỏi nhà cô, chúng tôi mới thì thào với nhau: “Chắc xẩy ra chuyện gì đấy, chứ làm sao một người như cô Tề lại về ở làng?”.
Có thể lời thì thào ấy động lên tới xã, cũng có thể họ cũng nghĩ như chúng tôi nên tối ấy chủ tịch xã đến nhà cô Tề. Anh ta là thế hệ trưởng thành sau chiến tranh, học hết lớp mười còn học xong trường trung cấp nông nghiệp của tỉnh. Cô Tề mời chủ tịch xã ngồi rồi đi vào gian nhà trong. Lâu lắm cô mới quay trở ra. Cô thay bộ áo quần lụa mỏng bằng bộ quân phục đã sờn màu. Đi đến trước mặt chủ tịch xã cô đứng lại, khoanh hai tay trước ngực, đầu hơi ngẩng lên:
- Nào! Chắc anh có chuyện cần nói với tôi.
- Trước tiên đại diện chính quyền địa phương, tôi đến thăm sức khỏe cô. Sau thì...
Cô Tề không để anh ta nói hết:
- Chẳng phải anh đến thăm tôi. Người ta đến thăm nhau bản mặt nó khác cơ.
Chủ tịch xã gượng cười:
- Cô cũng biết xem tướng cơ à?
Cô Tề nhíu mày. Cô bỗng nhớ người bố anh ta cũng từng làm chủ tịch xã suốt mấy nhiệm kỳ thời sau chiến tranh. Cô nói:
- Tôi còn biết nhiều thứ nữa, nhưng không phải để nói với anh.
Chủ tịch xã đỏ mặt và đáng ra phải tự trấn tĩnh mình thì anh lại gằn giọng hỏi:
- Sao cô không lên ủy ban hành chính xã trình báo giấy tờ?
Cô bất giác thở dài, rồi nói:
- Tôi có giấy tờ nào đâu.
Chủ tịch xã nói:
- Cô Tề ạ, chúng tôi biết cô từng là anh hùng. Cũng biết cô làm lãnh đạo trên thành phố. Nhưng đây là làng. Đây có Đảng có Chính quyền.
- Nom tôi có vẻ chống Đảng lắm à?
- Không. Tôi không có ý nói thế... Nhưng mà... Anh ta đưa bàn tay khua khua trước mặt, rồi độp hỏi - Có phải cô bị kỷ luật không?
Cô Tề ngửa cổ ra cười. Tiếng cười của cô nghe lanh lảnh khiến chủ tịch xã phải ngoảnh nhìn ra ngoài trời, lúc này đã vàng rượi trăng. Cuối cùng cô nói:
- Anh lên trên thành phố mà hỏi.
Chủ tịch xã đứng dậy, lầm rầm câu gì đó rồi bước ra cửa.
Mấy ngày liền sau hôm ấy, cô không xuất hiện. Ngôi nhà im lìm, mốc mác như khi cô chưa về. Trưa và chiều thấy những làn khói xanh lam vờn lên ngọn tre rủ trên mái ngói biết được cô vẫn ở trong nhà. Có tin chủ tịch xã ra thành phố điều tra cô Tề. Vậy là chúng tôi ngóng anh ta. Một bữa, mới mờ sáng làng đã bị đánh thức bởi tiếng ô tô. Chúng tôi mở cửa nhìn và thấy từ trên xe bước xuống là hai người đàn ông, một là chủ tịch xã, còn người kia chúng tôi chưa từng gặp. Họ vào nhà cô Tề, lát sau người lạ mặt quay ra, bước nhanh lên ô tô như kẻ trốn chạy. Chúng tôi hỏi cô Tề: “Khách nào vậy?”. Cô đáp: “Người cùng cơ quan cũ”. Lại hỏi chủ tịch xã: “Sáng nay ai đến nhà cô Tề thế?”. Chủ tịch xã đáp: “Một người quan trọng”.
*
* *
Chiến tranh kết thúc, cô Tề mang hàm Trung úy, Bí thư Thành ủy biết cô từ trong chiến trường bàn với cô chuyển ngành. Bố đã mất, người chị không tin tức, cô không về nhà nữa mà chuyển thẳng ra tỉnh nhận công tác ở Ty lao động. Thời ấy việc xây dựng tổ chức các cơ quan từ điều kiện thời chiến chuyển sang thời bình thật ngổn ngang. Công việc cô đảm đương trở nên quan trọng. Khổ nỗi tâm huyết, nhiệt tình thì có thừa những chữ nghĩa chẳng được mấy nỗi lại bị rơi rụng khắp chiến trường, cô không biết bắt đầu công việc ở đâu và như thế nào. Phó Ty, tên Nghi, người nhỏ thó học ở Liên Xô về, có vẻ chân thành nói với cô:
- Chị đừng lo nghĩ nhiều. Tôi sẽ là người phục vụ chị vô tư, chung lưng, đấu cật với chị.
Cô Tề cởi mở.
- Anh nắm chắc lý luận, tôi vững về thực tiễn. Chúng ta đoàn kết thì việc gì cũng làm xong.
Nghi nhìn nghiêng vào đâu đó rồi vặn mình và nói:
- Có chị làm cái cột trụ cho cơ quan là tuyệt vời.
Công việc nằm cả trong tay Nghi. Hàng ngày cô Tề đi họp, hoặc đi nói chuyện đánh Mỹ ở các cơ quan, trường học, nhà máy, xí nghiệp. Một thời gian như thế. Rồi người ta nhận ra ký ức chiến tranh buồn nhiều hơn vui; vả, hiện tại còn bao nhiêu lo lắng cho cái ăn, cái mặc. Cô Tề cũng thấy chán mình. Bây giờ cô đã sang tuổi hai mươi tám. Nhìn trước ngó sau cùng lứa tác người ta đã tay bồng tay bế, cô giật mình sờ lên khuôn mặt đã hằn đầy vết nhăn của mình. Cô nghĩ sẽ không lấy chồng nữa. Duyên số thế nào cô gặp anh Hạnh. ở chiến trường về, cả nhà đã chết vì bom Mỹ, anh lửng thửng đi tìm việc làm. Người tiếp nhận anh là cô Tề. Nghe kể cô Tề mời anh ăn cơm cùng mình tại nhà ăn tập thể. Tuổi ấy cái chuyện tìm hiểu, thử thách hóa ra không còn quan trọng. Họ cưới nhau theo kiểu cưới của những cán bộ lãnh đạo; nghĩa là mọi thứ đều có vẻ trang nghiêm đến cả cái ghim cài huân chương, huy chương trên ngực áo.
Sau đó chúng tôi không biết vợ chồng họ sống với nhau thế nào. Bẵng đi một thời gian nghe tin anh Hạnh bỏ cô Tề vì không chịu nổi lời chê bai, dè bỉu của thiên hạ. Họ bảo anh là “thằng đàn ông bám váy vợ”, là “tên nô lệ trung thành” là “kẻ mồ côi vợ đáng thương”... Một bữa, Hạnh đỏ đèn ngồi hút thuốc lào vặt chờ vợ đến tận nửa đêm. Cô Tề về, treo cặp da lên tường, chưa kịp thay quần áo đã nghe tiếng nói khác lạ của chồng:
- Cô không dành được một phần con người cô cho cái nhà này ư?
Cô Tề cười, nụ cười có vẻ bao dung:
- Thì anh biết tôi làm gì rồi đó. Người ta còn bảo tôi là bộ mặt của tỉnh nữa cơ đấy.
Hạnh rũ người, bỏ ra quán rượu. Khuya, quán đóng cửa. Đêm ấy Hạnh không về. Sáng ra anh ta lên chiếc xe khách đầu tiên chạy vào hướng nam... Cái tiếng chồng bỏ khiến cô Tề thấy bị xúc phạm ghê gớm. Cô trở nên cay nghiệt với mọi người chung quanh. Ông Nghi đã lợi dụng điều ấy kéo cán bộ trong cơ quan về phía mình. “Các bạn thấy ô dù nó ghê gớm thế nào chưa? Chị Tề mà không được Bí thư nâng đỡ thì...”. Nghi không nói hết câu. Người ta đoán ra cái ý ông ta không nói ra.
Dạo ấy cả tỉnh tập trung “thay trời đổi đất xếp đặt lại giang sơn”, mở ra không biết bao nhiêu công trường thủy lợi. Tỉnh cần một số cán bộ đi cơ sở. Cô Tề xung phong. Cô tự đày đọa mình, cứ như sự vất vả sẽ làm vơi được những buồn đau trong lòng. Cô đã nhầm. Người cô gầy đi, da đen xạm còn nỗi buồn đau thì vẫn thế. Rồi cô bị cảm hàn phải vào viện. Chỉ mỗi cô tạp vụ cơ quan chăm sóc cô.
Cô Di về với cô Tề. Dân làng không ai bình luận gì. Trước kia, họ cho mình cái quyền phán xét, chì chiết cô. Bây giờ nghĩ lại họ cảm thấy ân hận? Cũng có thể, không ai nắm tay được tối ngày mà họ tha thứ cho cô? Cô Di như không quan tâm đến thái độ của dân làng. Gặp ai cô cũng cười một cách vui vẻ. Về sau chúng tôi mới biết, không dễ cô có được nụ cười vui vẻ ấy vì cuộc đời đã chẳng chiều cô: Anh lái xe tải làm chồng cô được 10 năm thì bị chết vì tai nạn giao thông. Cô thành người đàn bàn góa bụa không con, không người thân thích. Thế nên cô về quê. Về quê như một cuộc đi chơi ngẫu hứng và để gặp người em gái mà cô biết trước họ sẽ chẳng hòa hợp được.
Cô Di hỏi cô Tề sau một lúc ôm nhau:
- Nay thì em đã lo nghĩ cho bản thân mình chưa?
Cô Tề nhìn vào mắt chị gái, nói:
- Chị nói lạ quá...
Cô Tề im lặng. Từ đó trở đi hai chị em chỉ luẩn quẩn quanh chuyện ăn uống, thuốc men. Mỗi lúc cô Tề nói sang công việc, cô Di đều lảng tránh. Ngày cô Tề xin ra viện để về cơ quan, cô Di đùng đùng bỏ đi.
Cô Di đi rồi, cô Tề thấy căn phòng đang ở trống vắng và lạnh lẽo. Ông Nghi đến phòng cô, tỏ vẻ quan tâm:
- Nom chị ốm o quá! Công việc tôi gánh vác cho chị, chị cứ nghỉ ngơi đi. Sức khỏe là trên hết chị ạ.
Cô Tề nghỉ phép. Cô nhảy xe vào Nam. Linh tính cho cô hay, cô sẽ gặp anh Hạnh trong ấy. Thời đó người ta đổ xô vào vùng đất đỏ Tây Nguyên làm cà phê. Những chiếc xe khách lèn chặt người và đồ lề gia đình. Cô lẫn vào những con người mặt mũi háo hức đi tới miền đất hứa. Lặn lội từ Gia Lai đến Đắc Lắc, Kom Tum xuống Sài Gòn, nửa tháng sau cô về đến cơ quan, người khô quắt như một gốc cây cháy nắng. Cô có gặp chồng không? Chẳng ai dám hỏi điều ấy, còn cô thì lặng im, làm việc một cách máy móc và lạnh lùng.
Ông Nghi gặp cô, nét mặt đăm chiêu:
- Thời gian chị đi vắng, công việc ở nhà tuyệt vời. Đồng chí Bí thư Thành ủy chuyển công tác, chúng ta sắp có Bí thư mới.
Cô Tề dửng dưng:
- Ông Tảo. Tôi biết rồi.
Ông Nghi có vẻ ngần ngừ một lúc rồi nói:
- Sáng nay đã có kết quả bầu cử Hội đồng nhân dân...
Cô Tề chậm chạp:
- Tôi không trúng?
- Vâng. Tiếc là, đúng thế.
Cô Tề nhìn thẳng vào mắt ông Phó Ty. Sự mãn nguyện lộ liễu trong mắt ông ta làm cô choáng váng; lúc ấy một ý nghĩ chua xót chợt đến với cô: sự tồi tệ ở trong con người ông ta từ bao giờ? Ông Nghi như không quan tâm tới những điều mình vừa nói. Ông ta lặng lẽ ra về.
Hôm sau trong cuộc họp cơ quan cuối tháng, ông Nghi nói:
- Cô Tề có đóng góp trong chiến tranh. Nhưng chúng ta phải biết, xây dựng chủ nghĩa xã hội khác xa đánh giặc. Chỉ mỗi nhiệt tình, lòng dũng cảm chưa đủ mà phải có tri thức. Lê-nin bảo “Không có tri thức không có chủ nghĩa xã hội”. Còn gia đình cô Tề thành phần thì cơ bản. Nhưng cái vụ chồng và chị gái bỏ đi là biểu hiện sự tan rã của một tế bào xã hội.
Sau đó cả cuộc họp xổ tung ra và tất cả bắt đầu chuyển động: Những ánh mắt nhìn nhau, những cái đầu ngoảnh vào nhau, những lời nói chen chúc nhau. Cô Tề đứng dậy thật bình tĩnh nhưng có cảm giác run run hai bàn chân. Cô nói, giọng lạnh lùng và khô khan:
- Các đồng chí làm được những gì thì làm. Tôi mỏi mệt lắm rồi. Xong, cô bỏ ra khỏi phòng họp. Cô đi, đầu hơi ngẩng cao, dường như cô muốn khẳng định lòng tự trọng của một con người từng có vị thế xã hội tử tế. Sáng hôm sau cô về làng. Cô về làng như chúng tôi đã kể từ đầu truyện.
*
* *
Chủ tịch xã nói đúng. Người đàn ông mặc com lê đến nhà cô Tề rồi vội vàng ra đi là một con người quan trọng. Chuyện ấy mãi sau này chúng tôi mới hay biết. Kể từ hôm có khách lạ đến nhà chừng mươi ngày, một sáng chúng tôi thấy cô Tề ra khỏi làng. Trời không mưa chỉ có sương mù mỏng tang, nhưng cô mang áo bạt, đội nón lá. Chúng tôi đoán cô lên phố huyện sắm đồ dùng, vật dụng trong nhà. Hôm ấy không thấy cô về. Hôm sau, rồi hôm sau nữa cũng không thấy. Cánh cửa nhà cô vẫn đóng kín, cái khóa đồng vàng chóe nằm ngửa đít lên trời. Chúng tôi hỏi bà Dục góa chồng ở đầu ngõ nhà cô, bà ta chỉ lắc đầu.
Dân làng tôi lạ lùng. Khi cô Tề ở nhà có mấy ai nhắc tới, còn những ngày này tuồng như ngoài cô Tề họ chẳng có gì phải quan tâm nữa. Họ đoán già, đoán non mục đích chuyến đi của cô. Thậm chí có người còn giở “Đàm thiên thuyết địa luận nhân” tìm đoạn ông Ngô Bạch nói về tuổi ất Dậu. Từng mẩu, từng mẩu chúng tôi chắp vá lại thành ra câu chuyện về người đàn ông mặc com lê về nhà cô Tề. Ông ta tên Nghi, đúng như cô Tề nói với chúng tôi là cùng cơ quan cũ. Hẳn cô ngẫm ngợi lại, quyết định đến cơ quan. Đám phụ nữ làng tôi bình luận: “Làm dân tưởng dễ! Cứ lại phải quay đầu trở lại làm vương làm tướng. Xem ra làm việc gì với loại như cô Tề không phải lúc nào cũng dễ”. Chúng tôi cũng chỉ lũ cóc ngồi đáy giếng. Cô Tề chẳng phải như chúng tôi nghĩ. Một tuần sau cô xuất hiện trên đường làng. Đi cùng cô là một người đàn bà cao ráo, ăn mặc sang trọng. Người ấy chính là cô Di. Cô Di tìm về với em gái của mình. Lần trước thấy em đang ốm đau vẫn canh cánh chức tước, cô bực bỏ đi. “Chờ nó nhận ra nó ta về với nó cũng chưa muộn” - Cô Di nghĩ thế và đến ở trọ trong nhà một người bạn gái cách làng chúng tôi ngót trăm cây số. Lần cô Tề đi khỏi làng vừa kể trên là ra thành phố làm thủ tục giấy tờ nghỉ hưu. Nghe kể cô nói với lãnh đạo thành phố thế này: “Các đồng chí giao cho tôi đứng đầu một cơ quan quan trọng của Đảng và Nhà nước. Trước tôi nghĩ việc ấy là đương nhiên. Tôi có cống hiến, tôi tận tâm, tận ý với các đồng chí. Nay, ngoái nhìn lại, thật tôi không hiểu vì sao các đồng chí lại làm thế? Tôi muốn nghỉ, các đồng chí bắt đồng chí Nghi về tận làng bàn tôi trở lại làm việc, tôi cũng không hiểu nốt”. ấy là cô nói theo cách dân làng tôi: một lời hai, ba nghĩa. Chứ chắc là cô hiểu hết. Cô Di biết chuyện, mới về với cô Tề...
Từ bữa ấy, nhà cô Tề luôn mở cửa. Thỉnh thoảng hai cô ăn mặc rất đẹp có cả vôi ve nhàn nhạt trên môi, trên má đi ra đầu làng, vào quán cố Tuyên. Khi tôi lớn lên đã thấy cái quán của cố nằm nép dưới gốc duối già. Chiến tranh, cố lên núi Sạc trốn bom. Hòa bình cố trở về lại dựng lều bên gốc duối bán rượu trắng với cua đồng rang lá chanh, con nào con nấy nần nẫn vàng ươm và thơm phức.
Hai cô không uống rượu chỉ ăn mỗi món cua đồng. Cô Tề lương cao, cô Di hưởng toàn bộ gia tài anh chồng lái xe tải để lại, họ không cần lội bùn vẫn dư cái ăn, cái mặc. Dân làng tôi nói: “Đời thế mới là đời”. Thì mỗi người một cách nghĩ chứ chúng tôi thấy, đàn bà không chồng có nằm trên núi vàng, đồi ngọc cũng cứ khổ. Người xưa đã nói thế. Chúng tôi qua lại nhà hai cô nhiều hơn. Nhưng chúng tôi vẫn như không hiểu hết họ, vẫn như có một đường ngăn cách nào đó giữa họ với chúng tôi.
Tháng này sang tháng khác, năm này sang năm khác, cô Tề và cô Di tóc đã nhuốm bạc. Họ gắn bó với dân làng ngày càng khăng khít.
Mùa hè năm ấy nắng to. Cây cối vàng suộm lá. Mùa gặt châu chấu cào cào bay cả vào làng trốn nắng, đập cánh tanh tách suốt đêm qua ngày. Chủ tịch xã đứng giữa sân nhà cô Tề, tay xua đuổi lũ cào cào xúm xít trên mái tóc rối bù. Sau lưng anh ta một chiếc xe ô tô con đang nổ máy khật khừ. Đến lúc ấy chúng tôi mới biết cô Tề bị ốm nặng. Nghe bảo vết thương cũ tái phát. Chủ tịch xã báo lên huyện, huyện báo lên thành phố và Ban bảo vệ sức khỏe thành phố cho ô tô về đón cô đi chữa bệnh. Chúng tôi dìu cô bước liêu xiêu ra xe. Cô Di cũng xách túi theo. Dân làng nhìn mãi theo chiếc xe chở cô Tề cho đến khi mất hút sau khúc đường ngoặt, chỉ còn những làn bụi đường trắng dã xoài xuống đồng lúa mới ai về nhà nấy.
*
* *
Tôi có người anh cùng cha khác mẹ bỏ làng vào Đắc Lắc năm 1980, nhanh chóng tậu được hàng chục ha đất đỏ ba-zan màu mỡ. Anh trở nên giàu có, tiền của dư dả. Về quê thấy vợ chồng tôi nhếch nhác mới động lòng thương, anh đưa tôi vào coi vườn cà phê. Cùng làm việc bảo vệ với tôi còn một ông già sống câm lặng một cách khó hiểu. Anh bảo tôi “ông người ngoài ta” trước từng chiến đấu ở vùng Tây Nguyên này. Ông làm cho anh tôi hơn mười năm rồi. Có tiền nhưng ông chẳng làm nhà, chẳng sắm sửa đồ đạc gì cho mình. Ngoài công việc, ông chỉ thích mỗi đọc báo.
Bẵng đi một dạo, một hôm, ông gọi tôi vào lều của ông.
Ông ngồi trên chiếc chiếu trải dưới đất, trước mắt một chai rượu đã vơi nửa, lăn lóc hai cái chén và bừa bộn vỏ lạc, mẩu thuốc lá.
Ông im lìm, ngỡ như ông đã ngồi như thế lâu lắm rồi. Tôi nhìn khuôn mặt tái xanh của ông, lo lắng hỏi:
- Ông ốm à?
Ông giật mình, ngơ ngác, rồi đáp:
- Từ trưa tới giờ cứ thấy nóng ruột, chắc trời động... Nào, uống đi! - Ông đẩy về phía tôi một chén rượu.
- Để tôi hái ít lá cỏ mực giã nhỏ lấy nước ông uống...
Ông nhìn tôi, mắt thảng thốt thế nào ấy.
- Mai tôi có việc đi xa dăm ngày, chú mày lo mọi việc trong vườn nhé - Ông nói.
Tôi hỏi:
- Đi đâu?
- Đã nói là đi xa - ông bực bội.
Một mình gánh công việc của hai người, tôi hầu như không được nghỉ. Cứ trông ngóng ông ta vào. Ngày thứ năm kể từ bữa ông đi, anh trai tôi trao cho tôi lá thư của vợ gửi vào. Tôi xin trích một đoạn để kết thúc câu chuyện kể trên:
“Anh về đi thôi. Có đói chút cũng được. Còn một việc cần anh về giải quyết: Cô Tề chết rồi. Cô chết ở bệnh viện tỉnh, di chúc phải đưa về nghĩa địa làng ta. Cả làng đưa tang cô. Cô Di sắp đi xa. Chồng cô Tề về bảo sẽ bán nhà và đất. Em tính ta mua nó. Đất vườn nhà cô Tề tốt lắm./.
Bình luận